Click and See



Click & Go

Click & Go

Click & Go

Click & Go

Click & Go

 

Invitation

The Vietnamese-Australian Medical Association (V-AMA) would like to Invite Registered Medical Practitioners to join the V-AMA to consolidate the existing spirit of solidarity and provide the best quality of patients care.

"Together We Serve Better"

Please Visit Our Website or Contact V-AMA for Membership Application form or More Information.
Website:
http://www.viet-ama.org
Email: viet_ama@yahoo.com.au
P.O.Box: 215 BANKSTOWN, NSW, 2200, AUSTRALIA*

Membership Application Form
Download Application Form - PDF 237KB

 

stats tracker

If some Unicode characters are not properly displayed by your browser (or email software), please GO TO its "View" Menu, SELECT and TRY A different "Encoding", e.g. "Western European" OR "Unicode [UTF-8]"

 "Together We Serve Better"

Hỏi và Đáp trước đây

Hỏi: làm sao sớm biết một người đang bị tai biến mạch máu não (đột qụy - stroke) và phải làm gì ngay để giúp khi nghi ngờ đột quỵ?

Đáp: Xin nhớ lấy bốn chữ đầu của STROKE là:
S tức là Smile: miệng không thể c
ười khi được yêu cầu;
T tức là Talk: nói không
được khi được hỏi;
R tức là Raise: không thể đưa
2 tay lên được;
O tức là 000: xin gọi ngay 000 hoặc 911 nếu ở USA.

Một độc giả hỏi: triệu chứng như "đi tiểu nhiều lần", "chảy máu cam" là do bệnh gì?

Đáp: V-AMA chủ trương chỉ trả lời chung trên trang mạng này.

Những câu hỏi liên quan đến tư vấn Y khoa xin dành cho chính Bác sĩ Y khoa đang đăng ký hành nghề và đang chịu trách nhiệm điều trị cho chính người hỏi.

Nói chung thì một triệu chứng riêng lẽ như "đi tiểu nhiều lần" hoặc "chảy máu cam" không là đặc thù cho một bệnh thuộc cơ quan bộ phận nào. Hơn nữa, việc chẩn đoán bệnh một cách khoa học bởi các Bác sĩ đăng ký hành nghề Y khác với các người được gọi là BS (non-medical - không Y khoa) là ở chỗ có căn cứ trên bốn yếu tố SHOW: S là cho Subjective tức triệu chứng chủ quan do người bệnh cảm thấy; H - History tức bệnh sữ - quá trình và diễn tiến của bệnh trạng; O - Objective tức là dấu hiệu khách quan do Bác sĩ Y khoa phát hiện lúc thăm khám; W - Work-up tức là các xét nghiệm bổ sung như thử máu, thử nước tiểu, Imaging tức chụp hình y khoa như X-quang và siêu âm v. v.

Một độc giả hỏi về phiên dịch một số từ ngữ y khoa chuyên về Huyết học và Bệnh nhiễm.

Đáp: V-AMA cũng chỉ trả lời chung trên trang mạng này như sau:

V-AMA xin dành Công tác chuyển sang tiếng Việt những từ ngữ Y khoa cho các vị hữu trách có thẩm quyền và trách nhiệm về Văn hoá, Giáo dục, và Y khoa trong và ngoài nuớc.
Việc phiên dịch từ ngữ Y khoa nói chung và từ ngữ Y khoa chuyên ngành nói riêng hiện nay ch
ưa được thực hiện một cách chính thống do cơ quan có thẩm quyền trong nước Việt Nam cũng như trong cộng đồng người gốc Việt đang sống ở nước ngoài. Trong một số Từ điển trên mạng (online) hoặc trên sách, một số từ ngữ đã được dùng nhưng chưa đồng nhất lại nặng về chữ Hán - tối nghĩa, và chưa có Từ điển đầy đủ bằng tiếng Anh hoặc Pháp để người đọc có thể tìm hiểu và đối chiếu thêm. Do đó, để tránh hiểu lầm, khi chuyển ngữ, nên chua thêm từ Anh hoặc Pháp.
V-AMA hy vọng
độc giả tiếng Việt sớm có một số Từ điển chuyên ngành cập nhật và đầy đủ.

Hỏi: bệnh lo lắng thể hiện như thế nào?

Đáp: Sau đây là bệnh cảnh lâm sàng với các triệu chứng và dấu hiệu định bệnh:
Bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố định bệnh
Lo lắng là loại tình cảm phổ quát và bình thường, nhưng trong những hỗn loạn về lo lắng, các triệu chứng xảy ra thường xuyên hơn, nặng hơn và dai dẳng hơn. Các nhóm nhỏ của chứng lo lắng chia sẻ các triệu chứng nhưng khác nhau về yếu tố thời gian hay các yếu tố gây bệnh khác nhau (different precipitants)
Các triệu chứng và dấu hiệu của chứng lo lắng:
Các triệu chứng thường thay đổi và gồm có:
về tim mạch: hồi hộp, tim đập nhanh, phừng phừng, xanh xao, đau ngực hay khó chịu ngực
về hô hấp: thở dồn dập, ngáp hơi
về thần kinh: chóng mặt, run rẩy, cảm giác rần rần
về tiêu hoá: khó tiêu, sôi ruột, buồn nôn và khó chịu trong bụng
về nhận thức: sợ chết hay sợ phát điên, quá để ý hay giảm chú ý.

Hỏi: trong nhóm nhỏ của bệnh lo lắng, thế nào là chứng hỗn loạn sợ hãi?

Đáp: Hỗn Loạn Sợ Hãi (Panic disorder)
Đó là những thời kỳ sợ ngắn hạn, bất ngờ, tự nhiên có và hay tái phát của sự lo lắng cùng cực. Ban đầu thì không có yếu tố gây bệnh (precipitant), về sau có thể dính với các hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Sự lo lắng thứ phát thường xảy ra.
Theo sách DMS Ợ IV cần đến một số các triệu chứng (bằng hay lớn hơn 4) và các cơn xảy ra thường hay các hậu quả đặc biệt để định bệnh. Người bệnh thường mô tả triệu chứng đặc thù của bệnh sợ khoảng rộng (agarophobia) mà có người cho là biến chứng thứ cấp của những cơn khiếp sợ tái phát.
Một bệnh sử gia đình có hay không có chứng sợ khoảng rộng hay một bệnh sử của lo lắng do chia cách thường gặp. Hỗn loạn khiếp sợ thường xảy ra (tỉ lệ bệnh trong suốt đời là 0.4 đến 1.2%) và thường xảy ra ở người đàn bà trẻ tuổi.

Hỏi: xin nói rõ thêm về các tình trạng sợ hãi khác?

Đáp: Các Tình trạng sợ hãi (Phobic states)
Trong những bệnh này, sự lo lắng gắn liền với hoàn cảnh, với đồ vật hay với hoạt động nào đó và người bệnh thường tránh né.
1. Chứng sợ khoảng rộng (Agoraphobia)
Biểu hiện bằng sự tránh né các hoạt động vì ngại các cơn khiếp sợ xảy ra. Chẳng hạn tránh ra khỏi nhà, tránh sử dụng phương tiện di chuyển công cộng, tránh ở trong
đám đông hay ở nơi đóng kín. Tình trạng đỡ hơn nếu người bệnh có bạn hay người hôn phối đi kèm. Bệnh gây suy yếu và thường đi kèm với bệnh trầm cảm, rắc rối trong hôn nhân và gia đình, hay lạm dụng thuốc hoặc rượu.

2. Sợ xã hội (Social phobia)
Sợ hay tránh sự quan sát chặt chẽ của công chúng. Các hoạt động như nói viết và ăn uống trước mặt người khác không thể thực hiện được và thường đi kèm với lo lắng quá độ.
Người bệnh thường tránh né một số hoàn cảnh xã hội. Chứng này có thể đi kèm với một nhân cách e thẹn, tự ý thức và thường gặp ở đàn ông nhiều hơn đàn bà.

3. Chứng sợ đơn giản (Simple phobia)
Đây là chứng sợ và tránh né một đồ vật hay nơi chốn nào đó chẳng hạn con nhện, rắn, chỗ cao, hay sấm sét. Đây là chứng thường gặp người bệnh ít khi đòi hỏi điều trị (trừ phi đồ vật sợ không thể tránh được)

Hỏi: thế nào là chứng PTSD (hỗn loạn căng thẳng sau thương tổn =post traumatic stress disorder) ?

Đáp:
Hỗn loạn căng thẳng sau thương tổn (Post-traumatic stress disorder) gồm một loạt các triệu chứng và hành sự xảy ra sau một biến cố làm đau khổ hay tai họa. Các triệu chứng có thể xảy ra lập tức, trễ hay kinh niên. Chứng này thường được mô tả ở các cựu chiến binh nhưng cũng được ghi nhận ở các nạn nhân chiến tranh hay các tai hoạ thường dân như cháy rừng, tội ác bạo hành. Chứng này thường gặp ở ngưòi tị nạn. Sách DSM mô tả các yếu tố định bệnh như sau:
a) Các triệu chứng xảy ra khi người bệnh trải qua một biến cố ngoài giới hạn thông thường của kinh nghiệm
b) Biến cố tổn thương tái phát trong thực tế hay trong mộng tưởng.
Người bệnh thường tránh né các kích thích đi kèm với sự tổn thương.
Các triệu chứng dai dẳng phải kể đến là tăng gia sự khuấy động, chẳng hạn mất ngủ, cáu kỉnh, kém tập trung, quá phòng bị và dễ giật mình

Hỏi: thế nào là chứng hỗn loạn lo lắng tổng quát?

Đáp:
Hỗn loạn lo lắng tổng quát (Generalised anxiety disorder) Trong chứng này, sự lo lắng không dính dáng đến một biến cố, thời điểm hay hoạt động gì đặc biệt mà lang bang và dai dẳng. Chứng này biểu hiện bằng sự lo lắng nặng nề và dai dẳng và bởi các triệu chứng căng thẳng vận động (như run rẩy và giật cơ), các triệu chứng tự dưỡng tăng hoạt và quá phòng bị, Người bệnh có thể có các triệu chứng khác nhau, đại khái 1/3 có các triệu chứng thần kinh, 1/3 với triệu chứng tim mạch, 1/3 với các triệu chứng về tiêu hoá.

Hỏi: định bệnh tổng quát chứng lo lắng như thế nào?

Đáp: muốn Định bệnh.
Dựa trên:
Bệnh sử kể cả cách phát bệnh, biến chuyển, các yếu tố làm giảm hoặc tăng bệnh và các biểu hiện đặc thù đã được mô tả ở trên;
Loại trừ các bệnh cơ thể bằng bệnh sử và khám bệnh;
Loại trừ các bệnh tâm thần khác;
Làm các thử nghiệm thích hợp tùy theo triệu chứng và cách biểu hiện

Hỏi: Điều trị chứng hỗn loạn lo lắng như thế nào?

Đáp: Nguyên tắc điều trị:
BS gia đình có thể điều trị đa số các hỗn loạn lo lắng. Nguyên tắc điều trị gồm có:
giải thích việc định bệnh và bản chất của các triệu chứng;

trấn an là không có bệnh về cơ thể;

khuyên tránh dung các hóa chất làm nặng bệnh như caffeine hay nicotine;
 
các phương cách tổng quát như thể dục thể thao thường xuyên và tập giãn căng (giữ bắp thịt và hít sâu) và các phương thức điều trị căng thẳng thần kinh.
Với các bệnh nặng có thể phải cần giới thiệu chuyên khoa hay điều trị đặc thù sau đây.

Hỏi: thuốc nào dùng để điều trị bệnh lo lắng?

Đáp: Các dược liệu dùng trị bệnh:
Benzodiazepines: lợi điểm lớn của nhóm thuốc này là tác dụng nhanh chóng. Bất lợi lớn là thường phải dùng phân lượng lớn, làm buồn ngủ và có cơ nguy bị lờn thuốc và ghiền thuốc. Khoảng 1/3 số bệnh nhân dùng benzodiazepines bị khó khăn lúc ngưng thuốc. Để ý là phải phân biệt các triệu chứng do bỏ thuốc benzodiazepine với bệnh lo lắng. Các thuốc này tốt nhất là dùng ngắn hạn đi kèm với điều trị giãn căng, điều trị hành vi và điều trị nhận thức.
Nhóm Tricyclic chống trầm cảm được dùng rất hữu hiệu trong các hỗn loạn kinh sợ nhưng ít hiệu quả hơn trong các hỗn loạn lo lắng. Clomipramine được dùng điều trị chứng Obsessive-compulsive disorder. Lúc dùng tricyclic thì phải nhớ là phải mất từ 1-3 tuần mới có hiệu quả. Các tác dụng ngoại ý chính là buồn ngủ, tác dụng chống choline và trong khoảng 20% các trường hợp khiếp sợ triệu chứng nặng thêm ban đầu.
Nhóm MAOI có hiệu quả với cơn panic. Bất lợi là phải 3 tuần mới có hiệu quả. Ngoài ra các tác dụng ngoại ý như chống choline, thấp huyết áp và tác dụng với các thức ăn chứa tyrosine hay các thuốc khác gây ra cao huyết áp. Phải giới hạn tyrosine trong các thức ăn và giám thị kỹ lưỡng các thuốc dùng chung. Moclobemide là một loại thuốc thuộc nhóm MAOI mà không cần các giới hạn trên.
Buspirone (Buspar 5mg/10mg) là loại thuốc mới không thuộc benzodiazepine tốt nhất cho bệnh lo lắng đại cương. Lợi điểm chính của thuốc này là không gây buồn ngủ như benzodiazepine và không đi kèm với quen thuốc, lệ thuộc vào thuốc hay các vấn đề lúc ngưng thuốc. Phải nhớ là thuốc không có hiệu quả trong việc trị liệu các triệu chứng lúc ngưng benzodiazepine và có thể đưa đến tình trạng dysphoria nếu dùng chung với benzodiazepine.
Beta-blocker với phân lượng nhỏ có thể hữu hiệu trong các biểu chứng về cơ thể của chứng lo lắng như hồi hộp, run rẩy hay đổ nhiều mồ hôi. Nhưng chúng không có hiệu quả lên các triệu chứng tâm thần.
Thuốc nhóm SSRI như fluxetine hữu hiệu trong chứng obsessive-compulsive disorder.

Hỏi: có cách điều trị đặc biệt nào cho các nhóm riêng biệt của chứng lo lắng?

Đáp: Sau đây là các Điều trị riêng của các chứng lo lắng
1. Các chứng hãi sợ:
Hành xử trị liệu thường gồm có việc thiết lập các giai tầng của biến cố sợ hãi rồi cho tiếp xúc với sự gây sợ từ từ đi kèm với trị liệu giãn căng.
Trị liệu nhận thức: tìm ra các suy nghĩ và tin tưởng vô lý rồi thách thức (challenged).

2. Panic disorders:
Trị liệu tốt nhất gồm tổng hợp các phương thức sau đây:
Hành xử trị liệu gồm trị liệu giãn căng, trị liệu tiếp xúc và kiểm soát sự thở dồn dập.
Trị liệu nhận thức: các bệnh nhân này thường có ý tưởng vô lý, sợ bị điên hay chết. Nói rõ ra, phán xét một cách hợp lý.
Dựơc lý trị liệu: chọn lựa tùy theo triệu chứng, tùy theo sự đáp ứng với các thuốc đã dùng trước đây và cân nhắc các tác dụng ngoại ý. Các thuốc gồm có:
a) Benzodiazepines (see above);
b) Tricyclic antidepressants;

c) MAOIs.

3. Post-traumatic stress disorder
Các thuốc kể trên đều có hiệu quả cho chứng này

4. Generalised anxiety disorder Đây là một hỗn loạn kinh niên và tốt nhất là trị liệu bằng cách phối hợp sự trấn an, sự giãn căng cùng với các hành xử nhận và thức trị liệu. Nếu thất bại thì dùng thuốc giảm lo nhưng phải cẩn thận về việc quen thuốc, tùy thuộc vào thuốc và bỏ thuốc. Betablocker rất có ích cho những triệu chứng toàn thân như hồi hộp, run rẩy và thoát mồ hôi.

Các khía cạnh đặc biệt của trị liệu: Thời gian điều trị bằng thuốc thay đổi tùy theo tình trạng trước khi tìm cách trị liệu và sự đáp ứng với các dạng trị liệu khác. Thông thường nên ngưng thuốc sau 3 -6 tháng sau khi không bị nữa.

Hỏi : Lúc nào thì giới thiệu chuyên khoa?

Đáp: Nên giới thiệu chuyên khoa nếu:
Nghi ngờ định bệnh;

Không đáp ứng với trị liệu cơ bản;
Biểu hiện lâm sàng rắc rối với các yếu tố xã hội hay nhân cách;
Biểu hiện lâm sàng rắc rối bởi các hỗn loạn thứ cấp như bệnh trầm cảm hay nghiện thuốc, nghiện rượu. ©

References:
1. Weissman MM, Marikangas KR. The epidemiology of anxiety and panic disorders: an update. Journal of Clinical Psychiatry 1986; 47 (Suppl. 6): 11-172.
2. American Psychiatric Association. Diagnostic and statistical manual of mental disorders, 3rd ed (revised). Washington: American Psychiatric Association, 1987
3. Klein DF. Anxiety reconceptualised. Comprehensive Psychiatry 1980; 21: 411-427

BS Trần Đình Hoàng
HYSVU chân thành cảm tạ BS Trần Đình Hoàng đã giúp phần giải đáp tổng quát trên đây. Các trường hợp cá biệt luôn luôn cần tư vấn của Bác sĩ đang phụ trách việc điều trị.

Bấm Chuột để gửi thêm Câu Hỏi


© Copyright 2008 viet-ama.com. All Rights Reserved. 

 

Home | News | Services | Support | Archive