|
If some Unicode characters
are not properly displayed by your browser (or email software),
please GO TO its "View" Menu, SELECT and TRY A different "Encoding",
e.g. "Western European" OR "Unicode [UTF-8]"
"Together We Serve Better"
Hỏi và
Đáp trước đây
Hỏi: làm sao sớm biết một
người đang
bị tai biến mạch máu não (đột
qụy - stroke) và phải làm gì ngay để
giúp khi nghi ngờ đột
quỵ?
Đáp:
Xin nhớ lấy bốn chữ đầu
của STROKE là:
S tức là Smile: miệng không thể cười
khi được
yêu cầu;
T tức là Talk: nói không được
khi được hỏi;
R tức là Raise: không thể đưa
2 tay lên được;
O tức là 000: xin gọi ngay 000 hoặc 911 nếu
ở USA.
Một độc
giả hỏi: triệu chứng như
"đi
tiểu nhiều lần", "chảy máu cam" là do bệnh gì?
Đáp:
V-AMA chủ trương
chỉ trả lời chung trên trang mạng này.
Những câu hỏi liên quan đến
tư vấn Y
khoa xin dành cho chính Bác sĩ Y khoa đang
đăng ký
hành nghề và đang
chịu trách nhiệm điều
trị cho chính người
hỏi.
Nói chung thì một triệu chứng riêng lẽ như
"đi tiểu
nhiều lần" hoặc "chảy máu cam" không là đặc
thù cho một bệnh thuộc cơ
quan bộ phận nào. Hơn
nữa, việc chẩn đoán
bệnh một cách khoa học bởi các Bác sĩ đăng
ký hành nghề Y khác với các người
được gọi
là BS (non-medical - không Y khoa) là ở chỗ có căn
cứ trên bốn yếu tố SHOW: S là cho Subjective tức triệu chứng
chủ quan do người
bệnh cảm thấy; H - History tức bệnh sữ - quá trình
và diễn tiến của bệnh trạng; O - Objective tức là dấu
hiệu khách quan do Bác sĩ Y khoa phát hiện lúc thăm
khám; W - Work-up tức là các xét nghiệm bổ sung như
thử máu, thử nước
tiểu, Imaging tức chụp hình y khoa như
X-quang và siêu âm v. v.
Một độc
giả hỏi về phiên dịch một số từ ngữ y khoa chuyên
về Huyết học và Bệnh nhiễm.
Đáp:
V-AMA cũng chỉ trả lời chung trên trang mạng này như
sau:
V-AMA xin dành Công tác chuyển
sang tiếng Việt những từ ngữ Y khoa cho các vị hữu
trách có thẩm quyền và trách nhiệm về Văn
hoá, Giáo dục, và Y khoa trong và ngoài nuớc.
Việc phiên dịch từ ngữ Y khoa nói chung và từ ngữ Y
khoa chuyên ngành nói riêng hiện nay chưa
được thực
hiện một cách chính thống do cơ
quan có thẩm quyền trong nước
Việt Nam cũng như
trong cộng đồng
người gốc
Việt đang
sống ở nước
ngoài. Trong một số Từ điển
trên mạng (online) hoặc trên sách, một số từ ngữ đã
được dùng
nhưng chưa
đồng nhất
lại nặng về chữ Hán - tối nghĩa, và chưa
có Từ điển
đầy đủ
bằng tiếng Anh hoặc Pháp để
người đọc
có
thể tìm hiểu và đối
chiếu thêm. Do đó,
để tránh
hiểu lầm, khi chuyển ngữ, nên chua thêm từ Anh hoặc
Pháp.
V-AMA hy vọng độc
giả tiếng Việt sớm có một số Từ điển
chuyên ngành cập nhật và đầy
đủ.
Hỏi: bệnh lo lắng thể
hiện như thế nào?
Đáp: Sau đây là bệnh cảnh
lâm sàng với các triệu chứng và dấu hiệu định bệnh:
Bệnh cảnh lâm sàng và các yếu tố định bệnh
Lo lắng là loại tình cảm phổ quát và bình thường,
nhưng trong những hỗn loạn về lo lắng, các triệu chứng
xảy ra thường xuyên hơn, nặng hơn và dai dẳng hơn. Các
nhóm nhỏ của chứng lo lắng chia sẻ các triệu chứng
nhưng khác nhau về yếu tố thời gian hay các yếu tố
gây bệnh khác nhau (different precipitants)
Các triệu chứng và dấu hiệu của chứng lo lắng:
Các triệu chứng thường thay đổi và gồm có:
về tim mạch: hồi hộp, tim đập nhanh, phừng phừng,
xanh xao, đau ngực hay khó chịu ngực
về hô hấp: thở dồn dập, ngáp hơi
về thần kinh: chóng mặt, run rẩy, cảm giác rần rần
về tiêu hoá: khó tiêu, sôi ruột, buồn nôn và khó chịu
trong bụng
về nhận thức: sợ chết hay sợ phát điên, quá để ý
hay giảm chú ý.
Hỏi: trong nhóm nhỏ của
bệnh lo lắng, thế nào là chứng hỗn loạn sợ hãi?
Đáp: Hỗn Loạn Sợ Hãi (Panic
disorder)
Đó là những thời kỳ sợ ngắn hạn, bất ngờ, tự
nhiên có và hay tái phát của sự lo lắng cùng cực. Ban
đầu thì không có yếu tố gây bệnh (precipitant), về
sau có thể dính với các hoàn cảnh đặc biệt nào đó.
Sự lo lắng thứ phát thường xảy ra.
Theo sách DMS Ợ IV cần đến một số các triệu chứng
(bằng hay lớn hơn 4) và các cơn xảy ra thường hay các
hậu quả đặc biệt để định bệnh. Người bệnh thường
mô tả triệu chứng đặc thù của bệnh sợ khoảng rộng
(agarophobia) mà có người cho là biến chứng thứ cấp của
những cơn khiếp sợ tái phát.
Một bệnh sử gia đình có hay không có chứng sợ khoảng
rộng hay một bệnh sử của lo lắng do chia cách thường
gặp. Hỗn loạn khiếp sợ thường xảy ra (tỉ lệ bệnh
trong suốt đời là 0.4 đến 1.2%) và thường xảy ra ở
người đàn bà trẻ tuổi.
Hỏi: xin nói rõ thêm về
các tình trạng sợ hãi khác?
Đáp: Các Tình trạng sợ hãi
(Phobic states)
Trong những bệnh này, sự lo lắng gắn liền với hoàn cảnh,
với đồ vật hay với hoạt động nào đó và người bệnh
thường tránh né.
1. Chứng sợ khoảng rộng (Agoraphobia)
Biểu hiện bằng sự tránh né các hoạt động vì ngại
các cơn khiếp sợ xảy ra. Chẳng hạn tránh ra khỏi
nhà, tránh sử dụng phương tiện di chuyển công cộng,
tránh ở trong đám đông hay ở nơi đóng
kín. Tình trạng đỡ hơn nếu người bệnh có bạn hay
người hôn phối đi kèm. Bệnh gây suy yếu và thường
đi kèm với bệnh trầm cảm, rắc rối trong hôn nhân và
gia đình, hay lạm dụng thuốc hoặc rượu.
2. Sợ xã hội (Social phobia)
Sợ hay tránh sự quan sát chặt chẽ của công chúng.
Các hoạt động như nói viết và ăn uống trước mặt
người khác không thể thực hiện được và thường đi
kèm với lo lắng quá độ.
Người bệnh thường tránh né một số hoàn cảnh xã hội.
Chứng này có thể đi kèm với một nhân cách e thẹn, tự
ý thức và thường gặp ở đàn ông nhiều hơn đàn bà.
3. Chứng sợ đơn giản
(Simple phobia)
Đây là chứng sợ và tránh né một đồ vật hay nơi
chốn nào đó chẳng hạn con nhện, rắn, chỗ cao, hay sấm
sét. Đây là chứng thường gặp người bệnh ít khi đòi
hỏi điều trị (trừ phi đồ vật sợ không thể tránh
được)
Hỏi: thế nào là chứng
PTSD (hỗn loạn căng thẳng sau thương tổn =post traumatic
stress disorder) ?
Đáp:
Hỗn loạn căng thẳng sau thương tổn (Post-traumatic stress
disorder) gồm một loạt các triệu chứng và hành sự xảy
ra sau một biến cố làm đau khổ hay tai họa. Các triệu
chứng có thể xảy ra lập tức, trễ hay kinh niên. Chứng
này thường được mô tả ở các cựu chiến binh nhưng
cũng được ghi nhận ở các nạn nhân chiến tranh hay
các tai hoạ thường dân như cháy rừng, tội ác bạo
hành. Chứng này thường gặp ở ngưòi tị nạn. Sách
DSM mô tả các yếu tố định bệnh như sau:
a) Các triệu chứng xảy ra khi người bệnh trải qua một
biến cố ngoài giới hạn thông thường của kinh nghiệm
b) Biến cố tổn thương tái phát trong thực tế hay trong
mộng tưởng.
Người bệnh thường tránh né các kích thích đi kèm với
sự tổn thương.
Các triệu chứng dai dẳng phải kể đến là tăng gia sự
khuấy động, chẳng hạn mất ngủ, cáu kỉnh, kém tập
trung, quá phòng bị và dễ giật mình
Hỏi: thế nào là chứng hỗn
loạn lo lắng tổng quát?
Đáp:
Hỗn loạn lo lắng tổng quát (Generalised anxiety disorder)
Trong chứng này, sự lo lắng không dính dáng đến một
biến cố, thời điểm hay hoạt động gì đặc biệt mà
lang bang và dai dẳng. Chứng này biểu hiện bằng sự lo
lắng nặng nề và dai dẳng và bởi các triệu chứng căng
thẳng vận động (như run rẩy và giật cơ), các triệu
chứng tự dưỡng tăng hoạt và quá phòng bị, Người bệnh
có thể có các triệu chứng khác nhau, đại khái 1/3 có
các triệu chứng thần kinh, 1/3 với triệu chứng tim mạch,
1/3 với các triệu chứng về tiêu hoá.
Hỏi: định bệnh tổng quát
chứng lo lắng như thế nào?
Đáp: muốn Định bệnh.
Dựa trên:
Bệnh sử kể cả cách phát bệnh, biến chuyển, các yếu
tố làm giảm hoặc tăng bệnh và các biểu hiện đặc
thù đã được mô tả ở trên;
Loại trừ các bệnh cơ thể bằng bệnh sử và khám bệnh;
Loại trừ các bệnh tâm thần khác;
Làm các thử nghiệm thích hợp tùy theo triệu chứng và
cách biểu hiện
Hỏi: Điều trị chứng hỗn
loạn lo lắng như thế nào?
Đáp: Nguyên tắc điều trị:
BS gia đình có thể điều trị đa số các hỗn loạn lo
lắng. Nguyên tắc điều trị gồm có:
giải thích việc định bệnh và bản chất của các triệu
chứng;
trấn an là không có bệnh về cơ thể;
khuyên tránh dung các hóa chất làm nặng bệnh như
caffeine hay nicotine;
các phương cách tổng quát như thể dục thể thao thường
xuyên và tập giãn căng (giữ bắp thịt và hít sâu) và
các phương thức điều trị căng thẳng thần kinh.
Với các bệnh nặng có thể phải cần giới thiệu
chuyên khoa hay điều trị đặc thù sau đây.
Hỏi: thuốc nào dùng để
điều trị bệnh lo lắng?
Đáp: Các dược liệu dùng trị
bệnh:
Benzodiazepines: lợi điểm lớn của nhóm thuốc này là
tác dụng nhanh chóng. Bất lợi lớn là thường phải dùng
phân lượng lớn, làm buồn ngủ và có cơ nguy bị lờn
thuốc và ghiền thuốc. Khoảng 1/3 số bệnh nhân dùng
benzodiazepines bị khó khăn lúc ngưng thuốc. Để ý là phải
phân biệt các triệu chứng do bỏ thuốc benzodiazepine với
bệnh lo lắng. Các thuốc này tốt nhất là dùng ngắn hạn
đi kèm với điều trị giãn căng, điều trị hành vi và
điều trị nhận thức.
Nhóm Tricyclic chống trầm cảm được dùng rất hữu hiệu
trong các hỗn loạn kinh sợ nhưng ít hiệu quả hơn trong
các hỗn loạn lo lắng. Clomipramine được dùng điều trị
chứng Obsessive-compulsive disorder. Lúc dùng tricyclic thì phải
nhớ là phải mất từ 1-3 tuần mới có hiệu quả. Các
tác dụng ngoại ý chính là buồn ngủ, tác dụng chống
choline và trong khoảng 20% các trường hợp khiếp sợ triệu
chứng nặng thêm ban đầu.
Nhóm MAOI có hiệu quả với cơn panic. Bất lợi là phải
3 tuần mới có hiệu quả. Ngoài ra các tác dụng ngoại
ý như chống choline, thấp huyết áp và tác dụng với
các thức ăn chứa tyrosine hay các thuốc khác gây ra cao
huyết áp. Phải giới hạn tyrosine trong các thức ăn và
giám thị kỹ lưỡng các thuốc dùng chung. Moclobemide là
một loại thuốc thuộc nhóm MAOI mà không cần các giới
hạn trên.
Buspirone (Buspar 5mg/10mg) là loại thuốc mới không thuộc
benzodiazepine tốt nhất cho bệnh lo lắng đại cương. Lợi
điểm chính của thuốc này là không gây buồn ngủ như
benzodiazepine và không đi kèm với quen thuốc, lệ thuộc
vào thuốc hay các vấn đề lúc ngưng thuốc. Phải nhớ
là thuốc không có hiệu quả trong việc trị liệu các
triệu chứng lúc ngưng benzodiazepine và có thể đưa đến
tình trạng dysphoria nếu dùng chung với benzodiazepine.
Beta-blocker với phân lượng nhỏ có thể hữu hiệu trong
các biểu chứng về cơ thể của chứng lo lắng như hồi
hộp, run rẩy hay đổ nhiều mồ hôi. Nhưng chúng không
có hiệu quả lên các triệu chứng tâm thần.
Thuốc nhóm SSRI như fluxetine hữu hiệu trong chứng
obsessive-compulsive disorder.
Hỏi: có cách điều trị
đặc biệt nào cho các nhóm riêng biệt của chứng lo lắng?
Đáp: Sau đây là các Điều trị
riêng của các chứng lo lắng
1. Các chứng hãi sợ:
Hành xử trị liệu thường gồm có việc thiết lập
các giai tầng của biến cố sợ hãi rồi cho tiếp xúc với
sự gây sợ từ từ đi kèm với trị liệu giãn căng.
Trị liệu nhận thức: tìm ra các suy nghĩ và tin tưởng
vô lý rồi thách thức (challenged).
2. Panic disorders:
Trị liệu tốt nhất gồm tổng hợp các phương thức
sau đây:
Hành xử trị liệu gồm trị liệu giãn căng, trị liệu
tiếp xúc và kiểm soát sự thở dồn dập.
Trị liệu nhận thức: các bệnh nhân này thường có ý
tưởng vô lý, sợ bị điên hay chết. Nói rõ ra, phán
xét một cách hợp lý.
Dựơc lý trị liệu: chọn lựa tùy theo triệu chứng,
tùy theo sự đáp ứng với các thuốc đã dùng trước đây
và cân nhắc các tác dụng ngoại ý. Các thuốc gồm có:
a) Benzodiazepines (see above);
b) Tricyclic antidepressants;
c) MAOIs.
3. Post-traumatic stress disorder
Các thuốc kể trên đều có hiệu quả cho chứng này
4. Generalised anxiety disorder Đây
là một hỗn loạn kinh niên và tốt nhất là trị liệu
bằng cách phối hợp sự trấn an, sự giãn căng cùng với
các hành xử nhận và thức trị liệu. Nếu thất bại
thì dùng thuốc giảm lo nhưng phải cẩn thận về việc
quen thuốc, tùy thuộc vào thuốc và bỏ thuốc.
Betablocker rất có ích cho những triệu chứng toàn thân
như hồi hộp, run rẩy và thoát mồ hôi.
Các khía cạnh đặc biệt của
trị liệu: Thời gian điều trị bằng thuốc thay đổi tùy
theo tình trạng trước khi tìm cách trị liệu và sự đáp
ứng với các dạng trị liệu khác. Thông thường nên ngưng
thuốc sau 3 -6 tháng sau khi không bị nữa.
Hỏi : Lúc nào thì giới
thiệu chuyên khoa?
Đáp: Nên giới thiệu chuyên
khoa nếu:
Nghi ngờ định bệnh;
Không đáp ứng với trị liệu cơ bản;
Biểu hiện lâm sàng rắc rối với
các yếu tố xã hội hay nhân cách;
Biểu hiện lâm sàng rắc rối bởi các hỗn loạn thứ cấp
như bệnh trầm cảm hay nghiện thuốc, nghiện rượu. ©
References:
1. Weissman MM, Marikangas KR. The epidemiology of anxiety and panic
disorders: an update. Journal of Clinical Psychiatry 1986; 47
(Suppl. 6): 11-172.
2. American Psychiatric Association. Diagnostic and statistical
manual of mental disorders, 3rd ed (revised). Washington: American
Psychiatric Association, 1987
3. Klein DF. Anxiety reconceptualised. Comprehensive Psychiatry
1980; 21: 411-427
BS Trần Đình Hoàng
HYSVU chân thành cảm tạ BS Trần Đình Hoàng đã giúp
phần giải đáp tổng quát trên đây. Các trường hợp cá
biệt luôn luôn cần tư vấn của Bác sĩ đang phụ trách
việc điều trị.
Bấm Chuột để gửi
thêm Câu Hỏi
© Copyright 2008
viet-ama.com. All Rights Reserved.
|